Mr. Olympia qua các năm: danh sách nhà vô địch
Mr. Olympia qua các năm có 20 nhà vô địch trong 62 giải, từ Larry Scott (1965) đến Nick Walker (2026) [1][2][3]. Ronnie Coleman và Lee Haney giữ kỷ lục tám lần vô địch [1].
Bài lấy bảng kết quả từ hai danh sách, rồi thêm lịch sử, cách chấm và các hạng mục. Chỗ nguồn nói khác nhau, bài ghi rõ.
Mr. Olympia là gì và do ai lập ra
Mr. Olympia là danh hiệu dành cho người thắng hạng Open nam trong sự kiện Olympia [1]. Sự kiện này kéo dài một cuối tuần, gồm nhiều hạng mục, do IFBB Pro League cấp phép [1][2]. Joe Weider lập giải để những người thắng Mr. Universe nghiệp dư có chỗ thi tiếp và kiếm tiền [1][3]. Năm 1946, ông cùng em trai Ben đã lập liên đoàn IFBB [4].
Giải đầu tiên diễn ra ngày 18/09/1965 tại Brooklyn Academy of Music, thành phố New York, và Larry Scott thắng [1]. Giải nhất đã tăng từ 1.000 USD năm 1965 [1][5] lên 600.000 USD từ năm 2024 [1][3].
Tên Olympia dễ gây nhầm. Đây là giải do một liên đoàn thể hình chuyên nghiệp cấp phép [1], không phải giải của Thế vận hội. Muốn đọc về cử tạ ở Thế vận hội, bạn xem bài cử tạ Việt Nam và huy chương Olympic.
Danh sách vô địch Mr. Olympia qua các năm, 1965–2026
Bảng dưới đây là Mr. Olympia qua các năm của hạng Open nam. Hai danh sách khớp nhau về người thắng ở cả 62 năm [1][3].
| Năm | Nhà vô địch | Quốc tịch |
|---|---|---|
| 1965 | Larry Scott | Mỹ |
| 1966 | Larry Scott | Mỹ |
| 1967 | Sergio Oliva | Cuba |
| 1968 | Sergio Oliva | Cuba |
| 1969 | Sergio Oliva | Cuba |
| 1970 | Arnold Schwarzenegger | Áo |
| 1971 | Arnold Schwarzenegger | Áo |
| 1972 | Arnold Schwarzenegger | Áo |
| 1973 | Arnold Schwarzenegger | Áo |
| 1974 | Arnold Schwarzenegger | Áo |
| 1975 | Arnold Schwarzenegger | Áo |
| 1976 | Franco Columbu | Ý |
| 1977 | Frank Zane | Mỹ |
| 1978 | Frank Zane | Mỹ |
| 1979 | Frank Zane | Mỹ |
| 1980 | Arnold Schwarzenegger | Áo |
| 1981 | Franco Columbu | Ý |
| 1982 | Chris Dickerson | Mỹ |
| 1983 | Samir Bannout | Liban |
| 1984 | Lee Haney | Mỹ |
| 1985 | Lee Haney | Mỹ |
| 1986 | Lee Haney | Mỹ |
| 1987 | Lee Haney | Mỹ |
| 1988 | Lee Haney | Mỹ |
| 1989 | Lee Haney | Mỹ |
| 1990 | Lee Haney | Mỹ |
| 1991 | Lee Haney | Mỹ |
| 1992 | Dorian Yates | Anh |
| 1993 | Dorian Yates | Anh |
| 1994 | Dorian Yates | Anh |
| 1995 | Dorian Yates | Anh |
| 1996 | Dorian Yates | Anh |
| 1997 | Dorian Yates | Anh |
| 1998 | Ronnie Coleman | Mỹ |
| 1999 | Ronnie Coleman | Mỹ |
| 2000 | Ronnie Coleman | Mỹ |
| 2001 | Ronnie Coleman | Mỹ |
| 2002 | Ronnie Coleman | Mỹ |
| 2003 | Ronnie Coleman | Mỹ |
| 2004 | Ronnie Coleman | Mỹ |
| 2005 | Ronnie Coleman | Mỹ |
| 2006 | Jay Cutler | Mỹ |
| 2007 | Jay Cutler | Mỹ |
| 2008 | Dexter Jackson | Mỹ |
| 2009 | Jay Cutler | Mỹ |
| 2010 | Jay Cutler | Mỹ |
| 2011 | Phil Heath | Mỹ |
| 2012 | Phil Heath | Mỹ |
| 2013 | Phil Heath | Mỹ |
| 2014 | Phil Heath | Mỹ |
| 2015 | Phil Heath | Mỹ |
| 2016 | Phil Heath | Mỹ |
| 2017 | Phil Heath | Mỹ |
| 2018 | Shawn Rhoden | Mỹ |
| 2019 | Brandon Curry | Mỹ |
| 2020 | Mamdouh Elssbiay (Big Ramy) | Ai Cập |
| 2021 | Mamdouh Elssbiay (Big Ramy) | Ai Cập |
| 2022 | Hadi Choopan | Iran |
| 2023 | Derek Lunsford | Mỹ |
| 2024 | Samson Dauda | Anh |
| 2025 | Derek Lunsford | Mỹ |
| 2026 | Nick Walker | Mỹ |
Cột quốc tịch ghi nước mà vận động viên đại diện trên bảng kết quả. Shawn Rhoden sinh ở Jamaica nhưng thi cho Mỹ [1], còn danh sách thứ hai ghi anh là người Jamaica [3]. “Anh” là Vương quốc Anh. Từ 1974 đến 1979 giải chia hai hạng cân, và bảng chỉ ghi người thắng chung cuộc [1].
Ai vô địch Mr. Olympia nhiều nhất
Ronnie Coleman (1998–2005) và Lee Haney (1984–1991) cùng thắng tám lần, đều là tám năm liên tiếp [1]. Phil Heath (2011–2017) và Arnold Schwarzenegger có bảy lần, Dorian Yates sáu lần, Jay Cutler bốn lần [1]. Coleman về hạng chín năm 1997 rồi vô địch năm 1998 [1].
Hồ sơ từng người có ở bài Ronnie Coleman, người 8 lần vô địch Mr. Olympia và bài Arnold Schwarzenegger và kỷ nguyên vàng thể hình.
Các thời kỳ của Mr. Olympia
1965–1975: giải còn nhỏ và đi nhiều nơi. Năm 1968 và 1971, người thắng là thí sinh duy nhất, vì đối thủ rút lui hoặc bị cấm thi [1][3]. Ngược lại, bảng điểm hạng Open năm 2026 có 22 người [2]. Giải từng tới Paris năm 1971, Essen năm 1972 và Pretoria năm 1975 [1].
Cúp Sandow trao lần đầu năm 1976, như lời tri ân Eugen Sandow, người mở buổi thi thể hình đầu tiên [1][3].
1980–1981: hai kết quả bị phản đối. Arnold thắng lần thứ bảy năm 1980 ở Sydney (Úc) và Franco Columbu thắng năm 1981. Cả hai lần khán giả la ó [6].
1984–2017: các chuỗi dài. Haney, Yates, Coleman và Heath thắng 29 trên 34 giải (tự đếm từ bảng). Năm giải còn lại thuộc Cutler (bốn) và Dexter Jackson (một) [1]. Haney thường được cho là mở ra kỷ nguyên đề cao kích thước, còn Yates mở ra kỷ nguyên “quái vật cơ bắp” [3].
2018–2026: đổi chủ liên tục. Chín giải có bảy người thắng, chưa ai thắng ba năm liền (tự đếm từ bảng). Nick Walker, hạng sáu năm 2025, thắng năm 2026 trước Samson Dauda và Derek Lunsford [2][3].
Nhìn cả 62 giải, 5 chuỗi vô địch dài từ sáu đến tám năm liền chiếm 35 giải [3].

Cách chấm Mr. Olympia qua các năm đã đổi thế nào
Tom Minichiello, người từng dựng và chấm nhiều giải của liên đoàn, nhớ rằng Scott thắng năm 1965 bằng quyết định nhất trí [5]. Theo hồi ức của ông, năm 1966 giám khảo hoà 4–4 và giám khảo trưởng quyết định cho Scott [5].
Từ 1974, giải dùng hệ thống điểm [6]. Giải chia hai hạng cân đến hết 1979: dưới và trên 200 pound (khoảng 91 kg, tự quy đổi) [1][6]. Trong cuộc họp buổi sáng trước giải 1980, 15 thí sinh khác ủng hộ đề nghị bỏ cách chia này. Arnold, người vừa quay lại thi sau năm năm nghỉ, phản đối rồi rút lại ý kiến [6].
Joe Weider mô tả giải 1981 trong sách năm 1983, được Fair trích lại: ba vòng sơ khảo, mỗi vòng tối đa 20 điểm [6]. Vòng một xét dáng tổng thể, đối xứng, tư thế, độ săn và độ phát triển cơ. Vòng hai có sáu tư thế bắt buộc, vòng ba là phần tự do một phút [6]. Cuối cùng, trong màn so tư thế (posedown), mỗi giám khảo chọn một người nhất bằng một điểm [6].
Sau giải 1980, đại hội IFBB ở Manila ngày 28/11/1980 bổ sung điều lệ, cấm nhà tổ chức tự chọn hội đồng giám khảo [6].
Bảng điểm chính thức năm 2026 có hai cột, Judging và Finals, cộng thành tổng [2]. Trang IFBB không giải thích hai cột này; quy tắc “tổng nhỏ nhất xếp nhất” do bài tự suy ra từ bảng. Hệ năm 1981 thì ngược lại: mỗi vòng có điểm tối đa 20, điểm cao hơn là tốt hơn [6]. Walker được 8 + 10 = 18, Dauda 15 + 5 = 20, Lunsford 9 + 15 = 24. Hạng tư có 20 + 20 = 40, hạng năm 25 + 25 = 50 [2].

Các hạng mục khác ở Olympia
Ngoài hạng Open, năm 2026 Olympia có 11 hạng nữa, tổng cộng 12 hạng: 5 hạng nam và 7 hạng nữ [2]. Hạng nam gồm 212, Men’s Physique (từ 2013), Classic Physique (từ 2016) và xe lăn (từ 2018) [1]. Hạng 212 mang tên này từ 2012, tiền thân là hạng 202 có từ 2008 [1].
Classic Physique nhấn vào đối xứng, tỷ lệ, đường nét và vòng eo nhỏ, hơn là kích thước và khối lượng [1]. Chris Bumstead giữ kỷ lục sáu năm liền, từ 2019 đến 2024 [1]. Năm 2026, Classic Physique thuộc về Niall Darwen, Men’s Physique Ryan Terry, 212 Keone Pearson, còn Ms. Olympia (thể hình nữ) là Andrea Shaw [2].
Chất tăng cơ và thân hình trên sân khấu Olympia
Một tổng quan bình duyệt từ Trường Y Harvard cho biết vận động viên đỉnh cao dùng steroid đồng hoá từ thập niên 1950 [7]. Chúng có thể giúp tăng khối cơ, nhiều khi vượt xa mức đạt được bằng cách tự nhiên [7]. Về sau, Thế vận hội cấm chúng [7]. Thập niên 1970, steroid chủ yếu nằm trong giới thể thao đỉnh cao và thể hình thi đấu, những người ít nói công khai [7].
Hai nguồn trên nói về vận động viên đỉnh cao và người tập tạ nói chung, không nói về từng nhà vô địch [7][8]. Với người tập tự nhiên, thân hình sân khấu chỉ nên là mốc tham khảo, không phải mục tiêu.
Về sức khoẻ, tổng quan trên ghi liều cao kéo dài gây nhiều tác hại lâu dài, nhất là với tim mạch [7]. Năm 2017, một nghiên cứu cắt ngang khảo sát 140 nam giới tập tạ lâu năm, tuổi 34 đến 54 [8]. Có 86 người cho biết từng dùng steroid cộng dồn từ hai năm trở lên, 54 người không dùng [8]. Nhóm dùng có phân suất tống máu thất trái thấp hơn (52% so với 63%), thể tích mảng xơ vữa mạch vành lớn hơn [8].
Tác giả kết luận việc dùng lâu dài “có vẻ liên quan” tới các rối loạn này [8]. Thiết kế cắt ngang không chứng minh được nguyên nhân. Nếu bạn đang cân nhắc dùng chất này hoặc có triệu chứng tim mạch, hãy gặp bác sĩ trước.
Sai lầm hay gặp khi xem các nhà vô địch Mr. Olympia
Sai lầm thứ nhất là coi thân hình sân khấu như mục tiêu của mỗi buổi tập. Người mới nên bắt đầu từ lịch tập gym cho người mới: 3 buổi mỗi tuần. Hãy tăng dần, đừng bắt chước giáo án của vận động viên chuyên nghiệp.
Sai lầm thứ hai là coi bảng trên như xếp hạng “ai đẹp nhất mọi thời”. Hạng cân, tiêu chí chấm và giám khảo đã đổi nhiều lần [3][6].
Câu hỏi thường gặp
Mr. Olympia là giải gì?
Đó là giải thể hình chuyên nghiệp nam, hạng Open, thuộc sự kiện Olympia do IFBB Pro League cấp phép [1]. Joe Weider lập giải năm 1965 cho những người đã thắng Mr. Universe [1][4].
Ai vô địch Mr. Olympia nhiều lần nhất?
Ronnie Coleman và Lee Haney, mỗi người tám lần [1]. Phil Heath và Arnold Schwarzenegger có bảy lần [1].
Mr. Olympia đầu tiên năm nào, ai thắng?
Giải đầu tiên diễn ra ngày 18/09/1965 tại New York, và Larry Scott thắng [1]. Ông giữ danh hiệu năm 1966 [1][5].
Mr. Olympia có những hạng mục nào?
Năm 2026 có 12 hạng, gồm 5 hạng nam và 7 hạng nữ [2]. Hạng nam là Open, 212, Classic Physique, Men’s Physique và xe lăn [1][2]. Hạng nữ là Ms. Olympia, Fitness, Figure, Bikini, Women’s Physique, Wellness và Fit Model [1][2].
Nhà vô địch Mr. Olympia gần đây nhất là ai?
Nick Walker, người Mỹ, thắng ngày 26/09/2026 tại Las Vegas, trước Samson Dauda và Derek Lunsford [2]. Đó là danh hiệu đầu tiên của anh [1].
Tài liệu tham khảo
- Wikipedia (2026). Mr. Olympia. en.wikipedia.org
- IFBB Pro League (2026). 2026 Olympia Fitness & Performance Weekend: kết quả các hạng. ifbbpro.com
- FitnessVolt (2026). Every Mr. Olympia (Men’s Open Division) Winner Since 1965. fitnessvolt.com
- Rebecca Trounson, Los Angeles Times (2013). Joe Weider, pioneer bodybuilder and publisher, dies at 93. heraldnet.com
- Tom Minichiello (1995). Oasis in Manhattan. Iron Game History, Stark Center, Đại học Texas. starkcenter.org
- John Fair (2009). The Intangible Arnold: The Controversial Mr. Olympia Contest of 1980. Iron Game History, Stark Center, Đại học Texas. starkcenter.org
- Kanayama G, Hudson JI, Pope HG Jr (2010). Illicit anabolic-androgenic steroid use. Hormones and Behavior. pmc.ncbi.nlm.nih.gov
- Baggish AL et al. (2017). Cardiovascular Toxicity of Illicit Anabolic-Androgenic Steroid Use. Circulation. PMID: 28533317

Để lại một bình luận