Dụng cụ tập tạ qua các thời kỳ: từ hòn đá Hy Lạp tới tạ đòn Olympic
Trong bảo tàng khảo cổ Olympia có một khối sa thạch đỏ nặng 143,5 kg. Trên mặt đá khắc một câu: Bybon, con trai của Phola, đã nâng ta qua đầu bằng một tay [4].
Khối đá có hai rãnh khoét sâu làm chỗ nắm. Niên đại của nó là đầu thế kỷ 6 trước Công nguyên [4]. Bài này đi theo dụng cụ, không đi theo người tập.
Halteres: cặp tạ cầm tay dùng cho cả nhảy xa lẫn tập luyện
Halteres là cặp tạ cầm tay của người Hy Lạp cổ. Người Hy Lạp dùng chúng vừa để hỗ trợ cú nhảy xa vừa để tập luyện có bài bản [2]. Hiện vật còn lại làm bằng chì, đá và đồng, nặng từ 1,07 kg tới 4,63 kg [1].
Những hiện vật đó được xếp niên đại vào thế kỷ 6 và thế kỷ 5 trước Công nguyên [1]. Nhà địa lý Pausanias mô tả chúng có dáng tròn trịa hoặc thuôn dài, không tròn hẳn [2]. Khi cầm, các ngón tay luồn vào như luồn vào quai khiên [2].
Trong nhảy xa
Vận động viên cầm hai quả bằng hai tay. Họ đứng ở vạch batēr, vung tay ra sau, rồi mượn chính đà đó đẩy người tới trước [1].
Người Hy Lạp cổ khẳng định cặp tạ làm cú nhảy dài thêm [1]. Một nhóm nghiên cứu năm 2017 dựng lại halteres rồi cho bốn người nhảy thử, và kết quả không nghiêng hẳn về phía nào.
Tính trung bình, loạt nhảy tay không đạt 236,83 cm còn loạt cầm tạ 3 kg đạt 234,21 cm [1]. Nhưng ba trong bốn người lại lập cú nhảy xa nhất của riêng mình khi cầm tạ 2 kg hoặc 3 kg, và hai cú xa nhất cả buổi đều thực hiện với tạ 3 kg [1].
Trong tập luyện
Thầy thuốc Hy Lạp Antyllus ghi lại ba bài tập với halteres [2]. Bài thứ nhất là gập rồi duỗi tay, làm mạnh tay và vai. Bài thứ hai là bước lao người trong khi hai tay cầm tạ duỗi thẳng trước thân. Bài thứ ba là gập rồi duỗi thân người [2].
Đá nâng: bài kiểm tra sức mạnh có thang bậc
Câu khắc trên đá Bybon nói rõ là một tay. Nhưng nguồn [4] chỉ ghi rằng hai rãnh khoét khiến khối đá có thể đã được dùng như một quả tạ rời. Nguồn không khẳng định cú nâng một tay đã được kiểm chứng.
Ở Iceland, thang bậc rõ hơn nhiều. Bốn hòn đá ở Dritvík mang tên theo mức sức mạnh. Amlóði nặng 23 kg, Hálfdrættingur 54 kg, Hálfsterkur nghĩa là nửa sức nặng 100 kg, và Fullsterkur nghĩa là đủ sức nặng 154 kg [4].
Đá Húsafell nặng 186 kg. Theo nguồn [4], mục sư Snorri Björnsson tạo ra nó năm 1756, ban đầu để làm cánh cổng cho chuồng cừu và dê.
Ở Scotland có clach cuid fir, tạm dịch là đá đàn ông. Thanh niên nâng hòn đá của dòng họ lên ngang thắt lưng như nghi thức trưởng thành [4]. Cặp đá Dinnie nặng tổng cộng 332,5 kg, nổi tiếng nhờ lực sĩ Donald Dinnie những năm 1860 [4].
Đá tự nhiên không có quy chuẩn sản xuất. Khối lượng vì thế phụ thuộc vào từng hòn và từng lần cân.

Gada, nal của Ấn Độ và quả cân chợ của Nga
Ở miền bắc Ấn Độ, sân vật akhara có bộ dụng cụ riêng. Nhà nhân học Joseph Alter liệt kê bộ đồ nghề của mô hình sân vật cổ truyền: chuỳ gỗ mugdal, gada, và nal là những khối đá dùng để nâng [3].
Gada để tập là khối đá tròn nặng từ mười tới sáu mươi ki lô gam, gắn ở đầu một cây tre dài khoảng một mét [2]. Cặp chuỳ jori thì để vung chứ không để nâng, và Alter từng xem một đô vật biểu diễn với cặp jori nặng 80 kg [2]. Ba món giải quyết ba việc: kéo dài cánh tay đòn, nâng một khối nặng trơ trọi, và điều khiển một vật nặng đang chuyển động.
Các con số này lấy từ điền dã thế kỷ 20, không phải từ quy cách của thời cổ [2]. Gặp bài viết đưa ra con số chính xác cho gada thời cổ, bạn nên hỏi con số đó lấy từ đâu.
Quả tạ ấm của Nga thì sinh ra ngoài phòng tập hoàn toàn. Trong tiếng Nga nó là girya, quả cân kim loại dùng để cân nông sản ở thế kỷ 18 [5].
Đơn vị của nó là pood, bằng 16,38 kg [5]. Nhân rưỡi và nhân đôi con số đó, bạn ra 24 kg và 32 kg. Nguồn [5] đặt mốc ra đời của môn cử tạ ấm là năm 1885.
Thế kỷ 19: tạ đòn ra đời, đổ cát trước rồi mới có đĩa
Tạ đôi cầm tay đã có từ thời Hy Lạp và La Mã. Thanh tạ đòn thì mới hơn nhiều. Các nhà sử học Jan Todd, David Webster và Randy Roach tìm được rất ít bằng chứng về tạ đòn trước thế kỷ 19 [6].
Phiên bản đầu là thanh sắt gắn hai quả cầu đặc ở hai đầu. Người biểu diễn người Áo Karl Rappo sống từ 1800 đến 1854. Ông được ghi nhận là lực sĩ chuyên nghiệp đầu tiên dùng loại tạ này [6].
Quả cầu đặc có nhược điểm chí mạng là không đổi được mức. Các câu lạc bộ thể dục Turner ở Đức xử lý bằng cách làm cầu rỗng rồi đổ cát hoặc chì vào trong [6].
Năm 1859, George Barker Windship gắn hai vỏ cầu 68 pound vào một cán sắt rèn. Quả tạ thành phẩm nặng 141 pound, đổi mức bằng cách rót thêm đạn chì vào khoang [6].
Bước này trông tầm thường nhưng nó là bản lề. Khi mức tạ chia nhỏ được, việc tăng tải theo tuần mới thành khả thi. Toàn bộ nguyên lý tăng tiến phụ thuộc vào một dụng cụ chia được thành nhiều bậc.
Ở Anh, sách của Madame Brennar năm 1870 gọi thẳng tên thanh tạ đòn, dài từ bốn tới sáu foot [6]. Đầu thế kỷ 20, Alan Calvert mở xưởng tạ ở Mỹ. Ông bán loại đổ đạn chì trước, rồi chuyển sang loại lắp đĩa rời [6].
Đây cũng là giai đoạn diễn ra buổi thi thể hình đầu tiên trên thế giới.
Tạ đòn Olympic và chi tiết nhỏ làm nên nó
Đĩa rời giải quyết chuyện đổi mức. Nó không giải quyết chuyện xoay.
Khi bạn cử giật hoặc cử đẩy, thanh đòn phải quay được trong lòng bàn tay còn đĩa thì đứng yên. Nếu đĩa dính cứng vào thanh, quán tính quay của cả đống sắt dội thẳng vào cổ tay và khuỷu.
Năm 1905, Franz Veltum ở Đức giới thiệu thanh tạ mà tài liệu đương thời gọi là thanh xoay đầu tiên [2]. Tới năm 1910, mẫu đó bắt đầu được một xưởng dụng cụ ở Nürnberg sản xuất [2].
Năm 1928, chính xưởng đó ra mẫu mới, cây tạ Olympic hiện đại đầu tiên. Nó được dùng lần đầu ở Thế vận hội Amsterdam 1928, rồi gần như mọi hãng về sau chép lại [2]. Nguồn [6] ghi thêm rằng cuối thập niên 1920 Kaspar Berg quảng bá thanh tạ dài bảy foot. Nên đọc mốc này thành quãng 1905 đến 1928, chứ không phải một năm duy nhất.
Chuẩn hiện nay thì rất cứng. Thanh nam dài 2,2 m, nặng 20 kg, phần cầm đường kính 28 mm, hai ống lắp đĩa đường kính 50 mm, và luật ghi thẳng rằng ống lắp đĩa phải xoay tự do [7]. Thanh nữ dài 2,01 m, nặng 15 kg, đường kính cầm 25 mm [7].
Phần cầm dài 131 cm, trên đó mỗi bên có một vạch trơn rộng 0,5 cm, đặt cách ống lắp đĩa 19,5 cm [7]. Nhờ vạch đó, bạn đặt tay ở phòng tập nào cũng ra cùng một khoảng.

Máy tập ra đời và cuộc tranh luận chưa khép lại
Máy tập hiện đại gắn với tên Arthur Jones. Dòng máy mang tên Nautilus được cấp bằng sáng chế và bán ra ở Mỹ năm 1970 [8].
Lập luận của ông khá thẳng. Máy khoanh vùng nhóm cơ tốt hơn tạ đôi hay ghế đẩy, giữ được form và biên độ gập duỗi [8]. Đội bóng bầu dục Miami Dolphins dùng thiết bị này từ năm 1971 [8].
Có một con số bạn nên đọc thật kỹ. Jones tuyên bố Casey Viator tăng 63 pound, tức 29 kg cơ nạc, trong 28 ngày [8]. Đó là tuyên bố của người bán máy, không có nhóm đối chứng.
Nửa thế kỷ sau, câu hỏi máy hay tạ tự do đã có dữ liệu gộp. Một tổng quan hệ thống kèm phân tích gộp năm 2023 tập hợp 13 nghiên cứu với 1.016 người tham gia [9].
Không có khác biệt có ý nghĩa về phì đại cơ giữa hai nhóm, với p bằng 0,751 [9]. Bật nhảy cũng không khác, p bằng 0,290 [9].
Điểm đáng chú ý nằm ở tính đặc thù. Nhóm tập tạ tự do tiến bộ hơn khi được kiểm tra bằng bài tạ tự do, p bằng 0,023 [9]. Nói gọn, bạn giỏi lên ở đúng thứ bạn tập.
Mốc thời gian gọn lại
| Mốc | Dụng cụ | Con số tra được |
|---|---|---|
| Thế kỷ 6-5 TCN | Halteres | Chì, đá, đồng; hiện vật 1,07-4,63 kg [1] |
| Đầu thế kỷ 6 TCN | Đá Bybon | Sa thạch đỏ, 143,5 kg [4] |
| 1756 | Đá Húsafell | 186 kg [4] |
| Thế kỷ 18 | Girya của Nga | 1 pood bằng 16,38 kg [5] |
| 1859 | Tạ đổ đạn chì | 141 pound [6] |
| 1905 | Tạ đòn có ổ xoay | Veltum giới thiệu [2] |
| 1970 | Máy tập Nautilus | Ra mắt tại Mỹ [8] |
Bốn sai lầm người tập hay mắc
Thứ nhất là chép con số cổ mà bỏ mất bối cảnh. Khối đá Bybon có hai rãnh khoét sẵn làm tay cầm [4]. Một vật trơn nhẵn không rãnh là bài toán khác hẳn cho bàn tay và cột sống.
Thứ hai là tin rằng càng cổ thì càng đúng. Gada, nal và halteres tồn tại vì đó là vật liệu sẵn có, chứ không phải vì ai đã tối ưu chúng.
Thứ ba là bỏ hẳn một nhóm dụng cụ vì đọc được một câu tuyên bố mạnh. Dữ liệu gộp năm 2023 không cho thấy bên nào thắng về phì đại cơ [9].
Thứ tư liên quan tới chính cái ổ xoay. Nhiều thanh tạ rẻ tiền có ống xoay kẹt hoặc gần như không xoay. Các bài kéo nhanh khi đó sẽ truyền lực xoắn ngược về cổ tay và khuỷu.
Nếu bạn đau cổ tay hoặc khuỷu kéo dài sau những buổi tập cử nhanh, hãy đi khám thay vì tự chỉnh. Với người mới, chọn máy hay tạ rời chỉ là một phần nhỏ trong những gì không ai nói trước cho bạn.
Hai nghìn sáu trăm năm, dụng cụ đổi rất nhiều hình dạng. Thứ không đổi là việc bạn phải nâng một vật nặng dần lên, đều đặn, trong nhiều tháng.
Tài liệu tham khảo
- Friedman H, Miller PJ (2017). Reconstruction of the Ancient Greek Long Jump – an Opportunity for Multidisciplinary Collaboration. The EXARC Journal, số 2017/3. exarc.net
- Todd J (1995). From Milo to Milo: A History of Barbells, Dumbells, and Indian Clubs. Iron Game History, tập 3 số 6, Stark Center, Đại học Texas. starkcenter.org
- Alter JS (1995). Gama the World Champion: Wrestling and Physical Culture in Colonial India. Iron Game History, tập 4 số 2, Stark Center, Đại học Texas. starkcenter.org
- Wikipedia. Lifting stone. en.wikipedia.org
- Wikipedia. Kettlebell. en.wikipedia.org
- Physical Culture Study (2017). A Brief History of the Barbell. physicalculturestudy.com
- International Weightlifting Federation (2020). Technical and Competition Rules & Regulations, mục Men’s Bar và Women’s Bar. iwlf.in
- Encyclopedia.com. Jones, Arthur. encyclopedia.com
- Haugen ME, Vårvik FT, Larsen S, Haugen AS, van den Tillaar R, Bjørnsen T (2023). Effect of free-weight vs. machine-based strength training on maximal strength, hypertrophy and jump performance. BMC Sports Science, Medicine and Rehabilitation. pmc.ncbi.nlm.nih.gov

Để lại một bình luận